Bisabolol

Bisabolol đặc điểm nổi bật

  • Thành phần làm dịu da
  • Có thể mang lại một số đặc tính làm mờ vết thâm
  • Thường được chiết xuất từ hoa cúc

Bisabolol Thông tin chi tiết

Bisabolol là một tác nhân làm dịu da nổi tiếng. Hoạt chất này tồn tại dưới hai dạng cấu trúc khác nhau: alpha-bisabolol, được chiết xuất từ hoa cúc và các loại thực vật khác (mặc dù cũng có thể được tổng hợp trong phòng thí nghiệm) so với beta-bisabolol, được tìm thấy trong bông và ngô. Dạng alpha là loại được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc da. Bisabolol thường xuất hiện trong nhiều sản phẩm chăm sóc cá nhân, bao gồm kem dưỡng ẩm, sữa rửa mặt và serum. Hoạt chất này thường đóng vai trò sinh học làm dịu da nhờ đặc tính chống viêm và xuất hiện trong nhiều sản phẩm dành cho da nhạy cảm. Ngoài khả năng làm dịu, các nghiên cứu còn chỉ ra rằng bisabolol có thể hỗ trợ làm mờ các vết đổi màu trên da. Mùi hương tự nhiên ngọt nhẹ, hơi hoa của bisabolol khiến nó đôi khi được sử dụng với hàm lượng cao hơn để tạo mùi thơm cho công thức sản phẩm. Tuy nhiên, ở hàm lượng thấp, bisabolol hầu như không tạo mùi và các hợp chất làm dịu của nó dễ dàng vượt trội hơn bất kỳ nguy cơ gây kích ứng nào. Vì bisabolol thường được chiết xuất từ hoa cúc, mà hoa cúc lại thuộc họ cúc dại (ragweed), nên tốt nhất bạn nên tránh sử dụng nếu đã xác nhận dị ứng với cúc dại. Dưới dạng nguyên liệu thô, bisabolol là chất lỏng không màu đến vàng nhạt, có dạng dầu. Năm 2017, hội đồng Cosmetic Ingredient Review (CIR) đã kết luận rằng bisabolol an toàn khi sử dụng với nồng độ lên đến 1% trong các công thức lưu lại trên da (leave-on). CIR cũng lưu ý rằng bisabolol có thể tăng cường khả năng thẩm thấu của các thành phần khác trong công thức.

Tài liệu tham khảo

  • Life Sciences, tháng 9 năm 2022, xuất bản điện tử
  • CosmeticsInfo.org, truy cập tháng 5 năm 2021, xuất bản điện tử
  • International Journal of Cosmetic Science, tháng 8 năm 2019, trang 299-303
  • International Journal of Toxicology, tháng 9 năm 2017, trang 24S-25S
  • Cutis, tháng 11 năm 2015, trang 337-342
  • Current Pharmaceutical Biotechnology, năm 2014, trang 173-181
  • Food and Chemical Toxicology, tháng 10 năm 2011, trang 2580-2585
icons8-exercise-96 chat-active-icon chat-active-icon